Phân bố và phát triển than chì tinh thể ở Trung Quốc

Trong công nghiệp, than chì tự nhiên được phân loại thành than chì tinh thể và than chì ẩn tinh thể theo dạng tinh thể. Than chì tinh thể có độ kết tinh tốt hơn, đường kính phiến tinh thể >1 μm, chủ yếu được tạo ra từ tinh thể đơn hoặc tinh thể dạng vảy. Than chì tinh thể là một trong 24 loại khoáng sản chiến lược của đất nước. Việc thăm dò và phát triển than chì lần đầu tiên được đưa vào Quy hoạch Tài nguyên Khoáng sản Quốc gia (2016-2020). Tầm quan trọng của than chì tinh thể được thúc đẩy bởi các khái niệm như xe năng lượng mới và graphene.

Theo Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS), tính đến cuối năm 2017, trữ lượng than chì trên thế giới khoảng 270 triệu tấn, chủ yếu phân bố ở Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc và Brazil, trong đó Trung Quốc chủ yếu là than chì tinh thể và Thổ Nhĩ Kỳ là than chì ẩn tinh thể. Than chì ẩn tinh thể có giá trị thấp và triển vọng phát triển cũng như sử dụng hạn chế, do đó than chì tinh thể quyết định mô hình than chì toàn cầu.

Theo Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, than chì tinh thể của Trung Quốc chiếm hơn 70% tổng sản lượng thế giới. Trong đó, nguồn tài nguyên than chì tinh thể của tỉnh Hắc Long Giang chiếm tới 60% của Trung Quốc và hơn 40% của thế giới, đóng vai trò quyết định. Trung Quốc là những nhà sản xuất than chì tinh thể chính trên thế giới, tiếp theo là Ấn Độ và Brazil.
Phân bổ nguồn lực

Bối cảnh địa chất của các mỏ than chì tinh thể ở các vùng khác nhau của Trung Quốc
Đặc điểm kích thước của các mỏ than chì tinh thể lớn ở Trung Quốc và sản lượng vảy lớn (>0,15mm)
tỉnh Hắc Long Giang

Tỉnh Hắc Long Giang có trữ lượng than chì phân bố rộng khắp, đặc biệt là ở Hegang và Jixi. Khu vực phía đông của tỉnh là mỏ than chì tinh thể lớn nhất cả nước, với các mỏ than chì quy mô lớn và siêu lớn nổi tiếng như Jixi Liumao, Luobei Yunshan và Muling Guangyi. Mỏ than chì đã được tìm thấy ở 7 trong số 13 thành phố của tỉnh. Trữ lượng ước tính ít nhất là 400 triệu tấn, và tiềm năng tài nguyên khoảng 1 tỷ tấn. Mudanjiang và Shuangyashan có những phát hiện lớn, nhưng chất lượng tài nguyên được đánh giá toàn diện. Than chì chất lượng cao vẫn tập trung ở Hegang và Jixi. Ước tính trữ lượng than chì có thể khai thác được trong tỉnh có thể đạt từ 1 đến 150 triệu tấn (lượng khoáng sản).
Khu tự trị Nội Mông

Trữ lượng than chì tinh thể ở Nội Mông chỉ đứng thứ hai sau Hắc Long Giang, chủ yếu phân bố ở Nội Mông, Xinghe, Alashan và Baotou.

Hàm lượng cacbon cố định trong quặng than chì ở khu vực Xinghe thường nằm trong khoảng từ 3% đến 5%. Kích thước hạt >0,3mm chiếm khoảng 30%, và kích thước hạt >0,15mm có thể lên tới hơn 55%. Tại khu vực Alashan, lấy mỏ than chì Chahanmuhulu làm ví dụ, hàm lượng cacbon cố định trung bình trong quặng khoảng 5,45%, và hầu hết các hạt than chì có kích thước >0,15mm. Mỏ than chì ở khu vực Chaganwendu thuộc huyện Damao, khu vực Baotou có hàm lượng cacbon cố định trung bình là 5,61% và đường kính hạt chủ yếu nhỏ hơn 0,15mm.
Tỉnh Tứ Xuyên

Tài nguyên than chì tinh thể ở tỉnh Tứ Xuyên chủ yếu phân bố ở các huyện Panzhihua, Bazhong và Aba. Hàm lượng cacbon cố định trung bình trong quặng than chì ở khu vực Panzhihua và Zhongba là 6,21%. Quặng chủ yếu ở dạng vảy nhỏ, kích thước vảy không quá 0,15mm. Hàm lượng cacbon cố định trong quặng than chì tinh thể ở khu vực Nanjiang thuộc thành phố Bazhong dao động từ 5% đến 7%, cao nhất là 13%, và phần lớn các vảy than chì có kích thước >0,15 mm. Hàm lượng cacbon cố định trong quặng than chì ở huyện Aba dao động từ 5% đến 10%, và hầu hết các vảy than chì có kích thước <0,15mm.
Tỉnh Sơn Tây

Tỉnh Sơn Tây đã phát hiện 8 nguồn trữ lượng khoáng chất graphit tinh thể đã được xác định, chủ yếu phân bố ở khu vực Đại Đồng. Hàm lượng cacbon cố định trung bình trong các mỏ này chủ yếu nằm trong khoảng từ 3% đến 4%, và phần lớn các vảy graphit có kích thước >0,15 mm. Thử nghiệm tuyển quặng cho thấy năng suất quy mô lớn tương ứng khoảng 38%, ví dụ như mỏ graphit ở làng Qili, huyện Xinrong, Đại Đồng.
Tỉnh Sơn Đông

Nguồn tài nguyên than chì tinh thể ở tỉnh Sơn Đông chủ yếu phân bố ở Laixi, Pingdu và Laiyang. Hàm lượng cacbon cố định trung bình ở khu vực phía tây nam Laixi khoảng 5,18%, và đường kính của hầu hết các tấm than chì nằm trong khoảng từ 0,1 đến 0,4 mm. Hàm lượng cacbon cố định trung bình ở mỏ than chì Liugezhuang thuộc thành phố Pingdu khoảng 3,34%, và đường kính vảy chủ yếu nhỏ hơn 0,5 mm. Mỏ than chì Yanxin ở Pingdu có hàm lượng cacbon cố định trung bình là 3,5%, và kích thước vảy lớn hơn 0,30 mm, chiếm từ 8% đến 12%. Tóm lại, hàm lượng cacbon cố định trung bình trong các mỏ than chì ở Sơn Đông nói chung nằm trong khoảng từ 3% đến 5%, và tỷ lệ vảy lớn hơn 0,15 mm là từ 40% đến 60%.
trạng thái xử lý

Các mỏ than chì của Trung Quốc có chất lượng công nghiệp tốt, thích hợp cho khai thác, và hàm lượng than chì tinh thể không dưới 3%. Trong 10 năm qua, sản lượng than chì hàng năm của Trung Quốc dao động từ 60.000 đến 800.000 tấn, trong đó sản lượng than chì tinh thể chiếm khoảng 80%.

Trung Quốc hiện có hơn một nghìn doanh nghiệp chế biến than chì, sản phẩm bao gồm các khoáng chất than chì như than chì cacbon trung bình và cao, than chì tinh khiết cao và than chì dạng bột mịn, cũng như than chì giãn nở và các vật liệu cacbon khác. Đa phần các doanh nghiệp này là doanh nghiệp nhà nước, tập trung chủ yếu ở Sơn Đông, Nội Mông, Hồ Bắc, Hắc Long Giang, Chiết Giang và các nơi khác. Các doanh nghiệp khai thác than chì nhà nước có nền tảng vững chắc và lợi thế đáng kể về công nghệ và nguồn lực.

Than chì được sử dụng rộng rãi trong ngành thép, luyện kim, đúc, thiết bị cơ khí, công nghiệp hóa chất và các lĩnh vực khác nhờ những đặc tính ưu việt của nó. Với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, tiềm năng ứng dụng của các vật liệu than chì mới trong các ngành công nghệ cao như năng lượng mới, công nghiệp hạt nhân, thông tin điện tử, hàng không vũ trụ và quốc phòng đang dần được khai thác, và nó được coi là một nguồn tài nguyên chiến lược cần thiết cho sự phát triển của các ngành công nghiệp mới nổi. Hiện nay, các sản phẩm than chì của Trung Quốc chủ yếu được sử dụng trong vật liệu chịu lửa, vật đúc, gioăng, than chì đặc biệt và các lĩnh vực khác, trong đó vật liệu chịu lửa và vật đúc được sử dụng nhiều nhất.

 

Với sự phát triển không ngừng của ngành công nghiệp năng lượng mới, nhu cầu về than chì trong tương lai sẽ tiếp tục tăng.

Dự báo nhu cầu than chì của Trung Quốc năm 2020


Thời gian đăng bài: 25 tháng 11 năm 2019
Trò chuyện trực tuyến qua WhatsApp!